Trang chủ / Ứng dụng / Chăn nuôi / Safite tại trại heo miền Nam: một cấp ép thay cho hai, và số đo nước sau ép
Safite tại trại heo miền Nam: một cấp ép thay cho hai, và số đo nước sau ép
Case study

Tóm tắt nhanh
Máy ép phân Safite SF-100 tại một trại heo quy mô lớn ở miền Nam: cách bố trí một cấp, số đo thực nước sau ép và bảng đối chiếu với số liệu tham khảo.
Gần đây tôi có dịp đứng cạnh một hệ thống máy ép phân Safite ở một doanh nghiệp chăn nuôi heo quy mô lớn tại miền Nam Việt Nam. Bài này ghi lại cách họ bố trí, số đo thực sau ép, và những điều mà số đo đó không chứng minh được.
Tìm hiểu sâu hơn về quy trình chọn công nghệ tách nước bùn trong Cẩm nang xử lý bùn thải.
Bài toán: chất rắn đi trước, nước xử lý sau
Nước thải chuồng heo mang tải hữu cơ và chất rắn lơ lửng rất cao. Phần lớn BOD, COD và TSS gắn với xơ, cặn thức ăn và phân. Nếu để chúng chảy thẳng vào bể xử lý phía sau, bể sinh học phải gánh cả phần đáng lẽ tách được bằng cơ học. Nitơ thì khác: amoni và phần lớn nitơ tổng nằm ở dạng hòa tan trong pha lỏng, nên máy ép không loại được đáng kể hai chỉ tiêu này.
Giải pháp: một cấp thay vì hai
Phương án truyền thống là hai cấp: máy tách rắn – lỏng, bể trung gian, bơm chìm thứ hai, rồi máy ép trục vít. Cách này tốn hai thiết bị chính và thêm diện tích. Nó cần thêm bơm, ống, van và tủ điện cho từng cấp. Bảo trì nhân đôi, và có nguy cơ tắc hoặc rò tại bể trung gian.
Với Safite, phân từ hố thu gom vào thẳng máy ép, tách ngay trong một cấp. Phân sau ép được chuyển đi ủ hữu cơ, phần nước đi tiếp sang xử lý phía sau.


Thông số theo tài liệu của nhà sản xuất
| Hạng mục | Giá trị |
|---|---|
| Công suất mỗi máy | 15–20 m³/giờ |
| Chế độ chạy | 24/7 |
| Độ ẩm phân sau tách ép | 75–80% |
| Thu hồi cặn từ nước thải chuồng | khoảng 50–60% |
Số đo thực sau ép và đối chiếu
Mẫu nước sau ép được gửi phòng thử nghiệm đạt chứng nhận VIMCERTS, lấy ngày 07/06/2025. Bảng dưới đặt số đo thực cạnh hai nguồn tham khảo để bạn tự đối chiếu.
| Chỉ tiêu | Nước thải chuồng heo thô, tham khảo (đầu vào máy ép) | Sau ép Safite SF-100 (đo thực) | Máy ép trục vít khác, tham khảo (tách khối lượng, không phải giảm nồng độ) |
|---|---|---|---|
| BOD5 (mg/L) | 742–3.465 (trại hộ nhỏ VN); 2.100 (1 trại, Bình Dương) | 8.610 | Chưa có nguồn |
| COD (mg/L) | 1.000–30.000 (khoảng chung); 3.459 (1 trại, Bình Dương) | 31.700 | 34,9% |
| TSS (mg/L) | 300–1.500 (trại hộ nhỏ VN) | 24.500 | TS: 14,9% |
| Amoni NH4+ (mg/L) | 400–2.000 (khoảng chung); 624 (Bình Dương) | 1.130 | Chưa có nguồn riêng |
| Nitơ tổng (mg/L) | 600–2.400 (khoảng chung); 975 (Bình Dương) | 1.930 | TKN: 9,2% |
Ghi chú: cột ép trục vít lấy từ một nghiên cứu thử máy ép trục vít tại một trại heo thương mại ở Mỹ (ASABE), là phần trăm khối lượng được tách vào phần rắn trên phân heo xả nước, không phải phần trăm giảm nồng độ ở dòng nước sau ép; điều kiện khác nhiều so với trại Việt Nam. Cột đầu vào là khoảng phổ biến trong tài liệu, không phải mẫu đo tại trại này. Phiếu thử nghiệm không có mẫu trước ép nên bài không tính hiệu quả riêng của Safite.
Cách đọc bảng
- Nước sau ép có COD 31.700 mg/L, nằm ở hoặc vượt mức trên của khoảng chung. BOD5 và TSS cũng cao hơn nhiều so với số của các trại hộ nhỏ. Điều này gợi ý dòng đầu vào của trại này khá đậm đặc, ít pha loãng.
- Tôi không kết luận đây là hiệu quả ép thấp. Đó chỉ là suy luận về độ đậm đặc của dòng vào, vì không có mẫu trước ép.
- Amoni và nitơ tổng vẫn cao vì phần lớn nitơ tan trong nước, máy ép không giữ lại được (nghiên cứu ASABE ghi TKN chỉ tách được 9,2%).
- Con số “thu hồi cặn khoảng 50–60%” là số của nhà sản xuất KDS, không đặt chung cột với số học thuật vì điều kiện thử khác nhau.
Vì sao đáng chú ý với thị trường Việt Nam
Trại heo Việt Nam thường thiếu mặt bằng và phải chạy liên tục. Bỏ một cấp thiết bị và bể trung gian nghĩa là ít điểm hỏng hơn. Nếu bạn đang cân nhắc phương án tương tự, xem trang ứng dụng ngành chăn nuôi và bộ giải pháp xử lý chất thải rắn.
Câu hỏi thường gặp
Máy ép phân có giảm được amoni không?
Không đáng kể. Amoni tan trong pha lỏng, cần xử lý sinh học hoặc hóa lý phía sau.
Một máy Safite xử lý bao nhiêu?
Theo tài liệu nhà sản xuất, 15–20 m³/giờ và chạy được 24/7.
Độ ẩm phân sau ép là bao nhiêu?
Khoảng 75–80%, phù hợp chuyển sang ủ phân hữu cơ.
Khác gì phương án hai cấp?
Bỏ máy tách rắn – lỏng riêng, bể trung gian, bơm chìm và ống nối thứ hai.
Case study
Case study liên quan
Case study
Nâng chất lượng nước thải trại heo trước khi xả ra sông với Slit Saver SS-311D
Case study xử lý cấp 3 nước thải trại chăn nuôi heo tại Nhật Bản: kết hợp keo tụ vô cơ, than hoạt tính và máy phân tách con lăn đa đĩa elip Slit Saver SS-311D để đạt độ trong đủ tiêu chuẩn xả ra sông.
Case study
Tách phân bò làm phân bón lỏng không dùng hóa chất: thử nghiệm tại một trung tâm kỹ thuật chăn nuôi Nhật Bản
Một trung tâm kỹ thuật chăn nuôi tại Nhật Bản dùng Slit Saver SS-311D tách phân bò không hóa chất để giữ dịch lỏng sạch cho thử nghiệm sản xuất phân bón lỏng — tỷ lệ thu hồi SS 60%, bánh bùn khô 24,2%.
Case study
Trại chăn nuôi heo Nhật Bản đồng phân hủy kỵ khí cùng phụ phẩm bánh kẹo, tách bùn tiêu hóa bằng Slit Saver SS-611D đạt thu hồi SS 99,2%
Một trang trại chăn nuôi heo tại Nhật Bản đồng phân hủy kỵ khí nước thải heo với phụ phẩm bánh kẹo, bánh mì để sản xuất biogas. Slit Saver SS-611D tách bùn tiêu hóa sau phân hủy đạt tỷ lệ thu hồi SS 99,2%.
